Ngày nay, cách mạng KH&CN trên thế giới tiếp tục phát triển với nhịp độ ngày càng nhanh, có khả năng tạo ra thành tựu mang tính đột phá. Trong 2 thập kỷ qua, các thành tựu to lớn của KH&CN đã thúc đẩy xã hội loài người chuyển từ nền kinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri thức. Đó là cơ hội mới cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Khoa học và công nghệ đã và đang trở thành động lực sản xuất trực tiếp, hàng đầu. Sức mạnh của mỗi quốc gia phụ thuộc phần lớn vào năng lực KH&CN. Vai trò của nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực KH&CN ngày càng có ý nghĩa quyết định trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế.
Để thích ứng với bối cảnh trên, các nước phát triển đang điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường; đẩy nhanh việc chuyển giao những công nghệ tiêu tốn nguyên liệu, năng lượng và gây ô nhiễm môi trường cho các nước chậm phát triển. Bên cạnh đó, một số nước đang phát triển dành ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao, tập trung đầu tư nghiên cứu và đổi mới công nghệ có chọn lọc; xây dựng cơ sở hạ tầng KH&CN nhằm tạo lợi thế cạnh tranh và thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển.
Mười lăm năm trở lại đây, tình hình kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng: Nền kinh tế có mức tăng trưởng cao, liên tục, tình hình chính trị, xã hội ổn định; đời sống của nhân dân được nâng cao rõ rệt; quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế được cải thiện. Tuy nhiên thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn có những điểm nghẽn cản trở sự phát triển.
Trong điều kiện vốn đầu tư hạn hẹp, trình độ phát triển kinh tế và khoa học công nghệ còn có khoảng cách khá xa so với thế giới và khu vực, câu hỏi đặt ra là: cần phải phát triển khoa học và công nghệ như thế nào để khoa học và công nghệ thực sự là động lực phát triển kinh tế - xã hội đưa Hà Nam trở thành một tỉnh có nền kinh tế phát triển bền vững? Đây là câu hỏi lớn cho khoa học và công nghệ Hà Nam.
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến phát triển khoa học và công nghệ, quan điểm phát triển khoa học và công nghệ được các văn kiện của Đảng và Nhà nước ghi rõ: phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước; Phát triển kinh tế-xã hội dựa vào khoa học và công nghệ, phát triển khoa học và công nghệ định hướng vào các mục tiêu kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh; bảo đảm gắn kết giữa khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ của nhân loại, đồng thời phát huy khoa học và công nghệ nội sinh, nâng cao hiệu quả sử dụng tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước; tập trung đầu tư của Nhà nước vào các lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động khoa học và công nghệ.
Dựa trên quan điểm đó, ngành khoa học và công nghệ của Hà Nam giai đoạn 2011- 2015 cần vận dụng linh hoạt, chọn lọc thành tựu khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ, cụ thể:
1. Chú trọng đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ từng ngành, từng lĩnh vực. Các ngành tập trung nghiên cứu - triển khai, ứng dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, tạo ra năng suất và chất lượng sản phẩm. Kết quả nghiên cứu phải gắn với yêu cầu phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực và tạo ra sản phẩm cụ thể.
2. Ưu tiên đầu tư nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào phát triển nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường. Tập trung ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới về giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất, chất lượng, phù hợp với điều kiện sản xuất nông nghiệp của Hà Nam. Phát triển những cây trồng vật nuôi bản địa là thế mạnh của tỉnh. Đồng thời chọn lọc những tiến bộ về công nghệ sinh học khảo nghiệm thành công và đưa vào sản xuất tại Hà Nam.
Bên cạnh đó cần tập trung các nhiệm vụ khoa học và công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường, đặc biệt tập trung nghiên cứu xử lý môi trường sông Nhuệ, sông Đáy và hiện đại hoá hạ tầng cơ sở khu vực nông thôn, đẩy nhanh việc xây dựng mô hình nông thôn mới và nhân rộng mô hình ra địa bàn toàn tỉnh.
3. Tăng cường ứng dụng và làm chủ các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực y, dược. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp coi đây là chìa khóa để đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào thực tiễn. Gắn việc ứng dụng tiến bộ công nghệ với việc đào tạo nhân lực có trình độ để tiếp thu và khai thác có hiệu quả.
4. Làm tốt việc xã hội hoá công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, khuyến khích các doanh nghiệp chủ động đầu tư nghiên cứu khoa học và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hoá và xây dựng các thương hiệu mạnh.
Các doanh nghiệp nhà nước phải đóng vai trò là lực lượng chủ lực và tiên phong trong việc đầu tư cho đào tạo, nghiên cứu và làm chủ những công nghệ chiến lược then chốt và công nghệ mũi nhọn để đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và tri thức cao theo định hướng xuất khẩu.
5. Thực hiện tốt công tác quản lý công nghệ các dự án đầu tư vào địa bàn tỉnh. Lựa chọn các công nghệ tiên tiến, phù hợp với Hà Nam và thân thiện với môi trường; kiên quyết ngăn chặn những công nghệ lạc hậu, công nghệ gây ô nhiễm môi trường, công nghệ lãng phí năng lượng, tài nguyên. Lựa chọn và ưu tiên một số công nghệ mang tính đột phá nhằm đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH các khu công nghiệp.
Để thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng tâm trên, cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
1. Việc phát triển KH&CN nói chung và việc ứng dụng các tiến bộ KH&CN nói riêng phải được xác định là một nhiệm vụ của các cấp ủy đảng chính quyền và phải huy động được các cấp các ngành, các cơ quan nghiên cứu, các doanh nghiệp và nhân dân tích cực thực hiện.
2. Đẩy nhanh công tác đổi mới cơ chế quản lý, rà soát hệ thống văn bản quản lý khoa học và công nghệ điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn trong giai đoạn đổi mới. Đổi mới căn bản cơ chế sử dụng kinh phí nhà nước và cơ chế xây dựng, triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ. Xây dựng đồng bộ chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài.
3. Đổi mới cơ chế hoạt động của Hội đồng KHCN tỉnh, làm tốt công tác lựa chọn, tuyển chọn các cá nhân, tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
4. Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đổi mới công nghệ, làm chủ các công nghệ then chốt, mũi nhọn. Phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật trình độ cao trong các doanh nghiệp.
5. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức khoa học và công nghệ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”./.
Tin: Nguyễn Mạnh Tiến- TUV. Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nam